Xây dựng ngay chiến lược phát triển

Từ xu xu thế ko bền vững về con người của thế giới 1970- 2020 – 2034 – 2064 – 2100; từ triển vọng Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2017 và Chiến lược phát triển dân số Việt Nam tới 2030 ko đạt được mục tiêu cơ bản “bảo đảm vững cứng cáp Tổng tỉ suất sinh (TTSS) thay thế”; từ dự báo thô dân số Việt Nam giai đoạn 2020 – 3000 và nguy cơ tự tiêu vong sau 500 năm; từ truyền thống văn hóa coi trọng gia đình của người Việt Nam, chúng ta cần xây dựng Chiến lược phát triển con người Việt Nam bền vững giai đoạn 2025- 2045.

Nền tảng rất cần thiết

Còn con người Việt Nam thì mới còn văn hóa Việt Nam, còn đất nước Việt Nam. Nếu đất nước ko tái tạo được con người thì đất nước sẽ tiêu vong. Vì vậy, những chính sách nào của Nhà nước, chính quyền địa phương; những quy định nào của doanh nghiệp, tổ chức cản trở, gây thiệt hại cho việc phát triển con người bền vững thì cần phải được điều chỉnh hoặc loại bỏ ngay.

Tại Việt Nam, hiện nay còn khá nhiều yếu tố cản trở ý định lập gia đình và với con.Ảnh: ANH THƯ

Để phương thức tăng trưởng kinh tế của đất nước ko dẫn tới suy thoái lao động và dân số, cần với sự thống nhất cao giữa Chính phủ, những doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò ko thể thay thế của gia đình và những điều kiện cần thiết để gia đình hạnh phúc, bảo đảm vững cứng cáp TTSS thay thế.

Tái tạo con người qua phát triển gia đình hạnh phúc và phát triển kinh tế là quan hệ 2 chiều, với sự chi phối của chính sách phát triển quốc gia, những địa phương và hoạt động của doanh nghiệp. với con người, với lao động đủ số lượng với chất lượng ko ngừng tăng thì mới với điều kiện phát triển kinh tế bền vững trong cơ chế khó kinh tế toàn cầu. Phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện để xây dựng gia đình hạnh phúc, công dân hạnh phúc.

Thực tế ở nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam (TP HCM) đã chỉ rõ ko phải năng suất lao động cao, ko phải GDP/người cao thì đương nhiên gia đình với điều kiện đủ để là gia đình hạnh phúc, sinh đủ 2 con. 50 năm qua trên toàn cầu cho thấy GDP/người càng tăng thì nguyện vọng người lao động kết hôn và sinh con càng giảm. Điển hình ở Nhật Bản, thời gian làm việc quá dài; điều kiện phát triển nghề nghiệp của phụ nữ bị hạn chế lúc sinh con và nuôi dạy con, người vợ với thời gian làm việc nhà, nuôi dạy con gấp 9 lần người chồng; mức giá tiền học hành; thiếu chỗ học cho trẻ mầm non… là những yếu tố trực tiếp cản trở mong muốn lập gia đình và với con.

TP HCM là nơi với GDP/người cao nhất cả nước song là nơi với TTSS thấp nhất cả nước từ hơn 20 năm nay, những năm vừa rồi chỉ ở mức khoảng một,4 con/phụ nữ. TP HCM là “hố đen dân số” sớm nhất, lớn nhất cả nước, dù nền kinh tế lớn nhất trong 63 tỉnh, thành phố (đóng góp khoảng 23% GDP), với năng suất lao động cao nhất cả nước (gấp khoảng 2,6 lần năng suất lao động Việt Nam).

Bài học rút ra từ thực tế trên là cần bảo đảm tổng hòa tác dụng của những chính sách, mục tiêu phát triển của Chính phủ, chính quyền địa phương, những quy định của doanh nghiệp, tổ chức và điều kiện sống thực tế của người lao động ở lứa tuổi 22- 35. Theo đó, ko tạo áp lực buộc họ phải lựa tìm và quyết định: muốn duy trì việc làm với thu nhập cần thiết, đủ sống thì phải từ bỏ nguyện vọng với gia đình, hoặc với gia đình thì phải từ bỏ nguyện vọng với 2 con hoặc một con. Chỉ lúc đó, TTSS được duy trì ở mức TTSS thay thế, đất nước mới phát triển bền vững về con người.

Ban hành chính sách từ sớm, từ xa và đủ mạnh

Thực tế của Nhật Bản đã chỉ rõ lúc TTSS bắt đầu giảm dưới TTSS thay thế (năm 1974) thì đất nước ko thiếu lao động, chưa gây hậu quả kinh tế. Chỉ từ năm 1995, số người trong tuổi lao động ở Nhật Bản mới giảm. Chính sự chậm 20 năm này, sự lệch pha 20 năm giữa TTSS thấp dưới 2,một và thiếu lao động thực tế đã làm cho những nhà quản lý đất nước, quản lý chính quyền địa phương và những chủ doanh nghiệp chậm nhìn thấy nguy cơ thiếu lao động lâu dài, nguy cơ TTSS sẽ thấp bền vững dưới TTSS thay thế. những chương trình của chính phủ tư vấn lập gia đình và sinh con ban hành với phần chậm, quy mô tài chính nhỏ và những doanh nghiệp chưa vào cuộc đủ mạnh để tạo điều kiện cho người lao động, nhất là lao động nữ với thể vừa với gia đình, với con, vừa với cơ hội thăng tiến nghề nghiệp. Kết quả là những chương trình tư vấn của chính phủ tác dụng thực tế ít, sau hơn 30 năm (1990 – 2023) ko đem lại sự thay đổi TTSS mong muốn.

lúc những chính sách của chính phủ tác dụng thực tế thấp, ko tăng được TTSS cơ bản, lâu dài đã kéo dài hơn 20 năm (1990 – 2015) thì một bộ phận người dân sẽ thay đổi căn bản quan niệm về gia đình và sinh con, cho rằng “kết hôn và với con là bất lợi cho bản thân, ko cần thiết”. lúc sự thay đổi nhận thức như vậy diễn ra thì việc đảo ngược nhận thức này sẽ rất khó khăn.

Nói tóm lại, một gia đình với 2 người đi làm phải với thu nhập tối thiểu đủ nuôi được 4 người, lúc đó họ mới với thể nuôi được 2 con. Cho tới nay, sắp 50 năm sau thống nhất đất nước, Chính phủ vẫn chưa tuyên bố mức sống tối thiểu được xác định như thế nào; những doanh nghiệp, cơ quan nhà nước cũng ko tuyên bố tiền lương tối thiểu trên cơ sở những quy định về cách tính mức sống tối thiểu của nhà nước. Nếu điều này ko được khắc phục thì ko với tiền đề để phát triển con người bền vững ở Việt Nam sau 2025.

Kết hôn và sinh con quyết định tương lai đất nước

Một thăm dò xã hội học vừa rồi ở TP HCM cho thấy nếu theo mong muốn của người lao động ở tuổi sinh sản thì số con bình quân một gia đình sẽ là 2,08, sắp bằng TTSS thay thế. Đây là một tin rất vui, một lợi thế rất rất cần thiết của Việt Nam, do truyền thống văn hóa coi trọng gia đình, coi trọng hạnh phúc gia đình lúc với con của người Việt Nam. Tuy nhiên, những điều kiện về thu nhập, mức giá tiền thế giới, cho con đi học, nhà ở, việc làm… ko cho phép họ thực hiện nguyện vọng đó. Nếu sự vênh nhau giữa mong muốn với 2 con và điều kiện thực tế ko thể với được 2 con kéo dài khoảng 20 – 30 năm thì người trẻ sẽ từ bỏ mong muốn với 2 con hoặc nhiều hơn. Đó là đại họa cho đất nước.

Vì thuận tiện quốc gia, vì tồn vong của dân tộc, nhà nước phải xây dựng một Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam bền vững 2025 – 2045, xây dựng những chương trình của Chính phủ tư vấn gia đình và trẻ em, xác định trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và tổ chức trong việc khuyến khích đại đa số công dân trẻ Việt Nam lập gia đình và mỗi gia đình bình quân với 2,một con.

Ngoài ra, ko kể khẳng định quyền tự do kết hôn và sinh con của công dân, chúng ta cần truyền thông sâu rộng, giáo dục từ phổ thông việc kết hôn và sinh con là quyền tự do của công dân nhưng đồng thời cũng quyết định tương lai tồn vong của đất nước.

Chúng ta còn khoảng 20 năm để tới thời điểm phải chịu hậu quả của thiếu lao động và để ban hành những chính sách đồng bộ mới để người trẻ ko mất niềm tin và ko thay đổi quan niệm về gia đình và sinh con, dẫn tới phát triển ko bền vững về con người. Nếu ngay trên sự thật chúng ta xây dựng một Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam bền vững giai đoạn 2025 – 2045 thì Việt Nam với thể vừa đạt mục tiêu là nước thu nhập cao vào 2045, vừa đạt mục tiêu là quốc gia với nhân lực phát triển, bền vững. 

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 26-12

“Để đất nước với nhân lực bền vững thì TTSS phải bằng hoặc lớn hơn TTSS thay thế.

Dân số thế giới giảm kéo dài

Năm 1970, tất cả những nước trên thế giới với TTSS lớn hơn 2,một và TTSS của thế giới là 4,7. Năm 2000 TTSS của hầu hết những nước đều giảm, TTSS của châu Âu chỉ là một,43, Bắc Mỹ là một,97, thế giới là 2,7.Năm 2020 những nước với TTSS < 2,một đã chiếm tới 40% dân số thế giới, TTSS thế giới là 2,3. Dự báo năm 2034 TTSS của thế giới là 2,một và sau đó giảm dần, năm 2100 TTSS = một,66.Năm 2064 dân số thế giới đạt đỉnh 9,7 tỉ và sau đó sẽ giảm còn khoảng 8,8 tỉ năm 2100. Đây là lần thứ nhất trong lịch sử hơn 2000 năm vừa rồi của loài người dân số thế giới giảm kéo dài.

Related post

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *